PhuongQuy.comPhương Quý
Quà tạ ơn thầy và người có ơn

Tôn sư trọng đạo thời xưa: học trò đền ơn thầy bằng những lễ gì

Lễ nhập môn, lễ tết thầy, học trò đỗ đạt về lạy thầy, để tang thầy: những cách người xưa đền ơn dạy dỗ, ghi theo sử sách và lệ làng, kèm điều còn dùng được.

Quiet courtyard of an old Confucian temple in Hanoi at early morning, ancient frangipani trees, stone steps and a red wooden gate seen from a distance, no visitors

"Tôn sư trọng đạo" nghĩa là kính thầy và quý cái đạo mà thầy truyền lại; người học trò xưa thể hiện điều đó qua một chuỗi lễ nghi kéo dài suốt đời: lễ vào học, lễ tết thầy hằng năm, lễ về lạy thầy khi thi đỗ, và cả việc chịu tang khi thầy mất. Đó không chỉ là chuyện quà cáp, mà là một cách sống: đã nhận ai làm thầy thì quan hệ ấy không chấm dứt khi rời lớp.

Bài này gom lại những lệ đền ơn thầy mà sử sách và các ghi chép phong tục còn nhắc đến, chủ yếu trong nền học chữ Hán ở làng quê Việt Nam trước khi khoa cử bị bãi bỏ đầu thế kỷ XX. Mỗi làng, mỗi thời một khác, nên các chi tiết dưới đây nên đọc như nếp chung, không phải quy định có văn bản. Cuối bài là phần xem cái gì trong nếp cũ vẫn dùng được cho người hôm nay.

Thầy trong nếp nghĩ người xưa: "quân, sư, phụ"

Nho giáo xếp ba bậc người cần được kính trọng là vua, thầy, cha. Thứ tự "quân, sư, phụ" ấy được người Việt học theo qua nhiều thế kỷ, và trong văn hoá làng, người thầy đứng ở một vị trí đặc biệt: không có quyền lực như quan, không giàu như phú hộ, nhưng được cả làng nể vì là người "biết chữ thánh hiền". Học trò gặp thầy ngoài đường phải đứng nép, chắp tay chào; cha mẹ học trò cũng tỏ ra khiêm nhường trước thầy của con.

Người thầy làng thời ấy thường là các ông đồ, nhiều người là nho sinh thi hỏng hoặc quan về hưu, mở trường tại nhà. Thu nhập của thầy không cố định: trông vào lễ vật của học trò theo mùa vụ, theo dịp Tết, theo những lần học trò thi đỗ. Vì vậy các lễ tạ thầy vừa là nghi thức tình cảm, vừa là cách nuôi người dạy học trong một xã hội chưa có trường công đúng nghĩa.

Hiểu bối cảnh này để thấy lễ tạ thầy xưa không xa hoa. Phần lớn là lễ vật nông sản, tiền ít, cốt ở tấm lòng và sự đều đặn. Khi đọc những câu chuyện học trò làm quan to vẫn về lạy thầy, cái được nhấn mạnh là sự khiêm cung, không phải giá trị món quà.

Những lễ đánh dấu đời học trò

Lễ nhập môn. Khi cha mẹ đưa con đến xin học, gia đình thường mang một lễ nhỏ như trầu cau, rượu, gà hoặc xôi, tuỳ nơi, để thưa chuyện với thầy và lễ trước bàn thờ Khổng Tử hay tổ tiên nhà thầy nếu có. Sách Luận Ngữ có câu Khổng Tử nói người nào tự mang lễ "thúc tu" (bó thịt khô, lễ vật mọn) đến xin học thì ông chưa từng không dạy; lệ lễ mọn khi nhập môn ở Á Đông thường được nhắc gắn với câu ấy.

Lễ theo mùa và lễ Tết. Học trò góp gạo, tiền theo mùa vụ hoặc theo năm, và dịp Tết đem lễ đến nhà thầy. Đây là nguồn gốc của câu "mùng ba Tết thầy" còn truyền đến nay.

Lễ khi thi đỗ. Người đỗ đạt, nhất là đỗ khoa thi lớn, khi về làng ngoài lễ bái tổ tiên còn đến tạ thầy đã dạy mình từ thuở vỡ lòng. Nhiều ghi chép phong tục kể cảnh tân khoa cưỡi ngựa về làng, rồi đến nhà thầy cũ cúi lạy.

Lễ mừng thọ thầy. Khi thầy lên lão, học trò nhiều khoá góp nhau làm lễ mừng, dâng câu đối, bức trướng. Đó vừa là tạ ơn, vừa là cách các lứa học trò gặp lại nhau.

Tang thầy. Học trò chịu "tâm tang" cho thầy, tức để tang trong lòng, không mặc đồ tang như con cháu nhưng kiêng vui chơi, đi đưa đám, về giỗ thầy hằng năm. Một số làng còn lệ học trò cùng nhau giữ giỗ thầy khi thầy không có con nối dõi.

Những câu chuyện thầy trò sử sách còn ghi

Câu chuyện hay được nhắc nhất về đạo thầy trò ở Việt Nam là chuyện thầy Chu Văn An đời Trần. Sử cũ chép rằng học trò của ông có người làm đến chức quan lớn như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát, mỗi khi đến thăm thầy vẫn lạy ở dưới giường, được thầy nói chuyện vài câu thì lấy làm mừng; có lỗi thì bị thầy quở mắng, thậm chí không cho vào. Chuyện cho thấy học trò dù làm quan vẫn giữ lễ trước thầy, và thầy dù là thường dân vẫn giữ quyền dạy bảo.

Ở Trung Hoa, sách Mạnh Tử và sử cũ đều ghi rằng sau khi Khổng Tử mất, các học trò để tâm tang ba năm, dựng lều cạnh mộ thầy; riêng Tử Cống ở lại thêm ba năm nữa. Câu chuyện này được nho sinh Việt Nam học thuộc và trở thành hình mẫu cho tang thầy.

Bạn có thể gặp nhiều giai thoại khác về thầy trò trên mạng, nhưng không ít chuyện được kể lại không rõ nguồn hoặc bị thêm thắt. Khi muốn dùng một câu chuyện để kể cho con, để viết lên thiệp tặng thầy, nên chọn những chuyện có ghi trong sử sách hoặc sách phổ biến, và kể vừa đủ, đừng thêm chi tiết mà mình không chắc.

Lễ xưa và cách người nay giữ tinh thần ấy

Phần lớn nghi lễ xưa không còn nguyên vẹn trong đời sống hôm nay, nhưng tinh thần của mỗi lễ đều có thể chuyển sang một việc làm vừa sức. Bảng dưới đặt cạnh nhau để bạn thấy sự nối tiếp ấy:

Lễ xưaÝ nghĩaViệc làm tương đương hôm nay
Lễ nhập môn bằng lễ vật mọnNhận người dạy làm thầy, hứa chăm họcĐến chào thầy dạy nghề, thầy hướng dẫn trước khi bắt đầu, nói rõ mình muốn học gì
Lễ Tết thầyNhớ ơn vào dịp lớn nhất nămĐi tết thầy cô cũ, gọi điện, gửi thư tay
Tân khoa về lạy thầyThành công là có phần của thầyBáo tin vui (tốt nghiệp, bảo vệ luận văn, thăng tiến) và mời thầy dự lễ
Mừng thọ thầyTạ ơn khi thầy về giàHọc trò nhiều khoá cùng tổ chức buổi mừng thọ, góp một món quà chung
Tâm tang, giỗ thầyƠn thầy không dứt khi thầy mấtĐến viếng, thắp hương ngày giỗ, góp vào quỹ học bổng mang tên thầy nếu gia đình đồng ý

Cột cuối không phải bản quy định. Mỗi lớp, mỗi nghề có cách riêng; điều đáng giữ là sự đều đặn và việc tự mình đến, thay vì chỉ gửi quà qua người khác.

Đền ơn thầy không chỉ bằng lễ vật

Trong ký ức về đạo thầy trò, những việc học trò làm cho thầy thường được nhắc đến nhiều hơn lễ vật. Khi thầy già yếu, học trò gần nhà thay nhau đến đỡ đần việc đồng áng, sửa mái nhà trước mùa mưa, đưa thầy đi chữa bệnh. Khi gia đình thầy gặp khó, học trò góp sức lo liệu. Đó là thứ đền ơn không ghi được thành danh sách lễ, nhưng lại là thứ người làng nhớ lâu nhất.

Một cách đền ơn khác là giữ lại chữ nghĩa của thầy. Trong truyền thống học chữ Hán ở Á Đông, việc học trò chép lại, sưu tập, rồi đem khắc in trước tác của thầy sau khi thầy mất là chuyện thường thấy; nhờ vậy nhiều tác phẩm mới còn đến ngày nay. Ở quy mô làng, đó có thể chỉ là giữ lại tập thơ chép tay, mấy bức câu đối thầy viết, để con cháu sau này còn biết.

Cách đền ơn bền nhất có lẽ là tiếp tục dạy. Nhiều người học trò về sau mở lớp, dạy lại cho trẻ trong làng như thầy đã dạy mình, và khi giới thiệu nghề của mình, họ luôn nhắc tên người thầy đầu tiên. Với người làm thầy, được học trò nối tiếp việc mình làm là niềm vui lớn hơn mọi lễ vật.

Những điều trong nếp xưa nên để lại phía sau

Đọc lại lệ cũ không có nghĩa là khôi phục tất cả. Có những điều thuộc về hoàn cảnh xã hội đã qua và không hợp với hôm nay:

  • Quan hệ thầy trò tuyệt đối, học trò không được hỏi lại, không được nói khác thầy. Giáo dục hiện đại coi việc hỏi lại là một phần của học.
  • Hình phạt roi vọt mà nhiều ghi chép về trường làng nhắc đến như chuyện bình thường.
  • Việc thầy sống nhờ hoàn toàn vào lễ vật của học trò, dẫn đến tình trạng nhà nghèo khó theo học.
  • Sự phân biệt nam nữ trong việc đi học, khi trường làng xưa gần như chỉ dành cho con trai.
  • Lễ vật nặng theo kiểu ganh đua giữa các gia đình, đi ngược với tinh thần "lễ mọn" ban đầu.

Giữ cái lõi là lòng biết ơn và sự đều đặn; bỏ đi những thứ thuộc về hoàn cảnh cũ. Đó cũng là cách nhiều nhà giáo ngày nay mong học trò hiểu chữ "tôn sư": kính trọng, nhưng không sợ hãi.

Kể chuyện tôn sư trọng đạo cho con cháu

Nhiều gia đình muốn dạy con biết ơn thầy cô, nhưng những bài giảng chung chung thường trôi qua tai trẻ. Cách hiệu quả hơn là kể bằng chuyện thật của chính gia đình: ông bà ngày xưa đi học ở đâu, ai dạy, người thầy ấy đã giúp thế nào; cha mẹ có một thầy cô nào để lại dấu ấn. Trẻ nhớ chuyện người thật lâu hơn nhớ khẩu hiệu.

Khi trẻ lớn hơn, có thể dẫn con đi cùng trong buổi tết thầy cũ của cha mẹ. Con thấy cha mẹ đã ngoài bốn mươi mà vẫn khoanh tay chào thầy, vẫn ngồi nghe thầy dặn, sẽ hiểu chữ "tôn sư" hơn mọi bài học.

Nếu muốn kể chuyện xưa như chuyện thầy Chu Văn An, nên kể đúng cái lõi sử cũ ghi lại và nói rõ đó là chuyện từ sử sách, để con biết phân biệt chuyện có ghi chép với chuyện kể truyền miệng. Đó cũng là một cách dạy con sự trung thực khi kể lại quá khứ, điều mà chính các thầy xưa rất coi trọng.

Câu hỏi thường gặp

Tôn sư trọng đạo nghĩa là gì?

Tôn sư là kính trọng thầy, trọng đạo là coi trọng điều thầy dạy, cả kiến thức lẫn cách làm người. Câu này thường được dùng để nói về truyền thống kính thầy của người Việt, gắn với nền học chữ Hán và lệ làng xưa.

Học trò xưa có những lễ gì để tạ thầy?

Các lệ thường được nhắc gồm lễ nhập môn khi xin học, lễ theo mùa và lễ Tết, lễ tạ thầy khi thi đỗ, lễ mừng thọ khi thầy về già và để tâm tang, giữ giỗ khi thầy mất. Chi tiết lễ vật khác nhau tuỳ làng và tuỳ thời.

Tâm tang là gì?

Tâm tang là để tang trong lòng: học trò không mặc đồ tang như con cháu nhưng kiêng vui chơi, đến đưa tang và giữ giỗ thầy. Sách Mạnh Tử và sử cũ ghi các học trò Khổng Tử để tâm tang ba năm, đây là hình mẫu mà nho sinh xưa học theo.

Chuyện học trò Chu Văn An lạy thầy dưới giường có thật không?

Đây là chuyện được sử cũ thời Lê ghi lại khi chép về Chu Văn An, kể rằng học trò làm quan to như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát vẫn lạy thầy ở dưới giường. Khi kể lại nên giữ đúng cái lõi ấy, không thêm chi tiết không có trong sách.

Ngày nay có cần làm lễ nhập môn khi đi học nghề không?

Không có quy định nào bắt buộc. Một số nghề truyền thống, võ đường hay lớp nghệ thuật vẫn giữ nghi thức bái sư theo nếp riêng. Nếu nơi bạn học có lệ ấy thì làm theo hướng dẫn của thầy; nếu không, một buổi chào hỏi tử tế đã là đủ.

Dạy trẻ biết ơn thầy cô thế nào cho tự nhiên?

Kể cho trẻ nghe về những người thầy thật của ông bà, cha mẹ, và cho trẻ đi cùng khi cha mẹ thăm thầy cô cũ. Trẻ học bằng cách nhìn người lớn làm, nên một buổi đi tết thầy có ý nghĩa hơn nhiều lời giảng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183