Những chữ Hán hay được viết thư pháp làm quà nhất là Tâm (心), Nhẫn (忍), Đức (德), An (安), Hiếu (孝), Hoà (和), Thứ (恕) và Thành (誠); mỗi chữ có nghĩa gốc, cấu tạo từ những bộ phận nhìn thấy được, và hợp với một kiểu người nhận riêng. Hiểu cấu tạo chữ giúp bạn giải thích món quà khi trao, thay vì chỉ nói “chữ này nghĩa đẹp”.
Bài này giải từng chữ ở mức người tặng cần biết: chữ ghép từ những phần nào, cách người xưa thường giảng, câu sách nào hay đi kèm và dịp nào hợp. Các chữ chúc tụng như Phúc, Lộc, Thọ, Song Hỷ gắn với tranh dân gian được bàn trong danh mục điển tích và hình tượng của trang. Cách giảng chữ theo hình ảnh là lối giảng dân gian và nhà nho hay dùng, không phải lúc nào cũng trùng với nguồn gốc chữ theo ngữ văn học; điều đó được ghi rõ ở từng chữ.
Chữ Tâm (心): chữ được tặng nhiều nhất
Chữ Tâm là chữ tượng hình, nét gốc vẽ quả tim. Người xưa coi tim là nơi chứa suy nghĩ và tình cảm, nên Tâm vừa là lòng, vừa là ý. Chữ chỉ có bốn nét, nhưng chính vì ít nét mà rất khó viết đẹp: ba chấm và nét móc phải cân nhau, lệch một chút là chữ mất thế. Người chơi thư pháp hay nói nhìn một chữ Tâm là đoán được tay nghề người viết.
Trong thư pháp tặng, chữ Tâm hợp với hầu hết người nhận: bạn bè, đồng nghiệp, thầy thuốc, người làm nghề phục vụ người khác. Ý chung là ghi nhận tấm lòng của người nhận. Câu Nôm “chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du hay được viết kèm bằng quốc ngữ; câu này nằm ở đoạn kết tác phẩm và được nhiều người thuộc, nên dùng ổn.
Lưu ý duy nhất là chữ Tâm đã quá quen. Nếu người nhận là người chơi chữ lâu năm, nhà đã có vài bức Tâm, bạn nên chọn chữ khác hoặc chọn một thể chữ khác hẳn bức họ đang treo. Nhiều chữ khác cũng mang bộ Tâm ở dưới hoặc bên trái, như Nhẫn, Thứ, Trung, Ân, nên có thể chọn những chữ ấy khi muốn giữ ý về tấm lòng.
Chữ Nhẫn (忍): lưỡi dao trên trái tim
Cấu tạo. Chữ Nhẫn gồm chữ Nhận (刃, lưỡi dao) ở trên và chữ Tâm (心) ở dưới. Theo ngữ văn, phần Nhận còn gợi âm đọc; còn trong lối giảng dân gian, hình ảnh một lưỡi dao đặt trên tim được hiểu là chịu đựng mà không để lòng mình rỉ máu, hoặc giữ lòng vững như dao kề mà không động.
Tích hay kể kèm. Sách xưa chép chuyện Trương Công Nghệ đời Đường, một nhà nhiều đời ở chung mà êm ấm; khi vua hỏi cách giữ nhà, ông viết rất nhiều chữ Nhẫn để trả lời. Từ đó có đề tài “bách nhẫn”, trăm chữ Nhẫn, hay được viết làm quà về đạo giữ nhà.
Ai hợp nhận. Chữ Nhẫn hợp với người làm việc cần kiên trì, người đang bước vào giai đoạn khó như mở doanh nghiệp, hoặc làm lời dặn của người lớn trong họ dành cho đôi vợ chồng trẻ. Người ngang hàng hoặc người dưới tặng người trên thì nên tránh, vì dễ bị hiểu là khuyên người trên nhịn.
Cách giải thích khi trao. Nói ngắn rằng bạn quý sự bền bỉ của người nhận, hoặc mong họ giữ được sự điềm tĩnh trong chặng mới. Tránh giảng dài về nhẫn nhục, nghe như trách.
Chữ Đức (德) và chữ Thành (誠): nói về phẩm hạnh
Chữ Đức có bộ Xích (彳) bên trái, gợi bước đi; phần bên phải vốn là một chữ cổ (悳) ghép từ chữ Trực (thẳng) và chữ Tâm. Vì vậy các nhà nho hay giảng Đức là “đi bằng tấm lòng ngay thẳng”, tức sống và hành xử theo lòng ngay. Đây là cách giảng dựa trên bộ phận có thật của chữ, nên dùng khi trao quà là hợp lẽ.
Chữ Đức hợp làm quà tạ ơn thầy, người cao tuổi đáng kính trong họ, người làm việc thiện lâu năm. Tặng người ngang tuổi hoặc trẻ hơn thì nên cân nhắc, vì khen người khác có đức là lời khen rất nặng; người nhận khiêm tốn có thể thấy ngại khi treo.
Chữ Thành gồm bộ Ngôn (言, lời nói) và chữ Thành (成, nên, hoàn thành) chỉ âm. Lối giảng phổ biến là lời nói đi đến cùng, nói được làm được, tức thành thật và giữ chữ tín. Thành là chữ an toàn cho quan hệ đối tác, bạn làm ăn lâu năm, vì nó ghi nhận sự tin cậy giữa hai bên mà không mang ý cầu lợi.
Trong sách Trung Dung có câu bàn rất kỹ về chữ Thành, coi thành là đạo của trời và cố gắng giữ thành là đạo của người. Nếu người nhận quý sách Nho, có thể nhắc nguồn này ở mức nói tên sách, không cần chép nguyên văn khi bạn không chắc câu chữ.
Chữ An (安), chữ Hiếu (孝), chữ Hoà (和): chữ cho gia đình
Ba chữ này có cấu tạo dễ nhìn và dễ kể, nên hợp với người nhận không rành chữ Hán. Bảng dưới tóm tắt cấu tạo, nghĩa và dịp hợp.
| Chữ | Cấu tạo nhìn thấy được | Cách giảng hay dùng | Dịp và người nhận hợp |
|---|---|---|---|
| An (安) | Bộ Miên (宀, mái nhà) trên chữ Nữ (女, người phụ nữ) | Người phụ nữ ở yên dưới mái nhà, nhà có người giữ là nhà yên | Mừng nhà mới, mừng thọ, người sắp nghỉ hưu |
| Hiếu (孝) | Phần trên lấy từ chữ Lão (老, người già), dưới là chữ Tử (子, con) | Con đỡ cha mẹ, người trẻ nâng người già | Con cháu tặng cha mẹ, ông bà; không hợp người ngoài tặng |
| Hoà (和) | Chữ Hoà (禾, cây lúa) và chữ Khẩu (口, miệng) | Có lúa cho mọi miệng ăn thì yên; cũng hiểu là lời nói êm thuận | Mừng cưới, mừng nhà mới, đối tác lâu năm |
| Gia (家) | Bộ Miên (宀) trên chữ Thỉ (豕, con lợn) | Nhà có vật nuôi là nhà đã ổn định đời sống | Mừng nhà mới; cần giải thích vì người nghe chữ lợn có thể ngỡ ngàng |
Chữ Hiếu là chữ nhạy cảm nhất trong nhóm. Người ngoài gia đình tặng chữ Hiếu cho con cháu nhà người khác dễ bị hiểu là nhắc nhở. Chữ này đẹp nhất khi do chính con cháu đặt viết để mừng thọ cha mẹ, kèm dòng lạc khoản ghi tên các con.
Chữ Thứ (恕): chữ ít người biết nhưng sâu
Chữ Thứ gồm chữ Như (如, như là) ở trên và chữ Tâm ở dưới. Lối giảng phổ biến là “lấy lòng mình làm như lòng người”, tức đặt mình vào chỗ người khác mà xét. Đây là một trong những cách giảng khớp khá sát với nghĩa sách.
Sách Luận Ngữ chép lời Khổng Tử khi học trò hỏi có một chữ nào để làm theo suốt đời không; ông đáp đó là chữ Thứ, rồi giảng: điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác (kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân). Câu này được nhiều người Việt thuộc dưới dạng phiên âm, nên có thể viết kèm bằng quốc ngữ dưới chữ Thứ.
Chữ Thứ hợp với người làm nghề cần thấu hiểu người khác: giáo viên, thầy thuốc, người làm công tác xã hội, người hoà giải. Nó cũng là món quà kín đáo giữa hai người bạn từng có hiểu lầm và đã làm lành. Vì chữ ít gặp, người nhận thường tò mò hỏi, và đó là cơ hội để bạn kể câu chuyện trong Luận Ngữ.
Một lưu ý khi đặt viết: chữ Thứ (恕) rất dễ bị nhầm với những chữ có hình gần giống. Hãy đưa người viết chữ chính xác bằng ký tự, không chỉ đọc âm “thứ”, vì tiếng Hán Việt có nhiều chữ cùng âm khác nghĩa.
Chữ đồng âm và những lỗi hay gặp khi đặt viết
Hán Việt có rất nhiều chữ cùng âm. Đặt viết chỉ bằng lời nói dễ nhận về một chữ khác hẳn nghĩa. Một số trường hợp nên cẩn thận:
- An: chữ An (安, yên) khác chữ Ân (恩, ơn). Muốn tạ ơn thầy mà nhận về chữ An thì ý lệch hẳn.
- Hiếu: chữ Hiếu (孝, hiếu thảo) khác chữ 好, chữ này đọc là hảo và cũng đọc là hiếu trong từ hiếu học, nghĩa là ưa thích. Muốn chữ hiếu thảo thì đưa đúng ký tự 孝.
- Thành: Thành (誠, thật lòng) khác Thành (成, nên việc) và Thành (城, thành quách). Cả ba hay được viết làm quà, mỗi chữ một ý.
- Nhẫn: chữ Nhẫn (忍) không có quan hệ với chiếc nhẫn đeo tay; đây là sự trùng âm trong tiếng Việt.
- Hoà: Hoà (和) là êm thuận; chữ Hoa (花, bông hoa) và Hoa (華) là những chữ khác, đừng để người viết nghe nhầm.
- Chữ giản thể: một số chữ có dạng giản thể dùng ở Trung Quốc đại lục. Thư pháp tặng ở Việt Nam thường dùng chữ phồn thể; nếu muốn, ghi rõ yêu cầu với người viết.
Cách chắc chắn nhất là gửi cho người viết hình chữ bằng ký tự kèm nghĩa bạn muốn, rồi xin xem bản nháp trước khi viết bản chính. Người viết có nghề sẽ sẵn lòng kiểm cùng bạn.
Kể chữ khi trao: thẻ giải nghĩa ba phần
Bức chữ chỉ thật sự thành quà khi người nhận hiểu nó và kể lại được cho khách đến nhà. Một tấm thẻ nhỏ đặt trong hộp hoặc dán mặt sau khung, viết tay càng tốt, nên có ba phần theo thứ tự:
- Chữ và âm đọc: ghi chữ Hán, âm Hán Việt và thể chữ người viết đã dùng (chân, hành hay thảo), để người nhận gọi đúng tên bức tranh.
- Nghĩa và cấu tạo: hai ba câu về chữ ghép từ những phần nào và cách giảng quen thuộc; nếu là cách giảng dân gian thì ghi rõ như vậy, không trình bày như nguồn gốc học thuật.
- Vì sao chọn cho người nhận: một câu riêng của người tặng, gắn với một kỷ niệm hay một phẩm chất của người nhận. Đây là phần làm tấm thẻ khác hẳn tờ giới thiệu in sẵn của cửa hàng.
- Tên người tặng và ngày: ghi cuối thẻ, khớp với dòng lạc khoản trên tranh nếu có.
Khi trao trực tiếp, chỉ cần nói phần thứ ba bằng lời, ngắn gọn; phần nghĩa và cấu tạo để người nhận tự đọc sau. Giảng dài về chữ trước đông người dễ thành buổi lên lớp, làm người nhận ngượng. Với người cao tuổi mắt kém, viết thẻ chữ to, mực đậm, và đọc giúp nếu họ muốn nghe.
Câu hỏi thường gặp
Cách giảng chữ Nhẫn là lưỡi dao trên trái tim có đúng không?
Về cấu tạo, chữ Nhẫn đúng là có chữ Nhận (lưỡi dao) trên chữ Tâm. Theo ngữ văn học, phần Nhận chủ yếu gợi âm đọc. Hình ảnh dao trên tim là cách giảng dân gian và nhà nho hay dùng để dạy đạo lý, nên khi trao quà bạn cứ kể, chỉ cần nói đây là cách giảng truyền thống.
Tặng chữ Tâm cho bác sĩ có hợp không?
Hợp, và là lựa chọn phổ biến khi tạ ơn thầy thuốc sau khi việc điều trị đã xong. Không nên tặng khi bác sĩ đang điều trị cho người nhà mình, vì nguyên tắc liêm chính trong ngành y. Một bức chữ Tâm khổ nhỏ kèm lá thư cảm ơn là đủ trang trọng.
Chữ nào hợp tặng đôi vợ chồng mới cưới?
Chữ Hoà hợp nhất vì ý êm thuận, không mang tính răn dạy. Chữ Nhẫn chỉ nên do cha mẹ hoặc người lớn thân thiết trong họ tặng kèm lời dặn. Chữ Song Hỷ là chữ mừng cưới quen thuộc nhưng thường dùng trang trí lễ cưới hơn là treo lâu dài.
Làm sao biết bức thư pháp viết đúng chữ mình đặt?
Gửi người viết ký tự chính xác và nghĩa mong muốn, xin xem bản nháp trên giấy thường hoặc ảnh chụp trước khi viết bản chính. Khi nhận tranh, nhờ thêm một người đọc được chữ Hán kiểm lại, nhất là với chữ thảo vì nét bị lược nhiều.
Có nên tặng chữ Hiếu cho bạn bè không?
Không nên. Chữ Hiếu nói về bổn phận của con với cha mẹ, nên người ngoài tặng dễ bị hiểu là nhắc nhở. Chữ này đẹp nhất khi con cháu tự đặt viết để mừng thọ hoặc tặng cha mẹ dịp nhà có việc vui, kèm tên các con ở dòng lạc khoản.
Chữ Hán trong thư pháp tặng nên là phồn thể hay giản thể?
Ở Việt Nam, thư pháp chữ Hán truyền thống gần như luôn dùng chữ phồn thể, giống chữ trên hoành phi, câu đối ở đình chùa. Chữ giản thể dùng trong văn bản hiện đại ở Trung Quốc đại lục. Tặng người Việt thì chọn phồn thể; tặng đối tác nói tiếng Hoa thì có thể hỏi họ quen dạng nào.