Thư pháp chữ quốc ngữ là lựa chọn làm quà dễ trúng ý nhất khi người nhận không đọc chữ Hán: ai nhìn cũng hiểu, có thể viết một chữ, một câu ca dao, một câu thơ hoặc chính tên người nhận. Cái khó nằm ở chỗ khác: chữ cách điệu quá thì không đọc được, câu sai chữ sai dấu thì thành món quà lỗi, và chọn câu sáo thì tranh trông như hàng bày sẵn.
Bài này giúp bạn chọn nội dung, chọn kiểu viết, kiểm chính tả và dấu, chọn nền giấy, và tránh vài lỗi rất hay gặp ở tranh chữ Việt bán sẵn. Cách đặt viết riêng, ghi lạc khoản và đóng ấn được bàn ở bài khác trên trang.
Thư pháp chữ Việt khác thư pháp chữ Hán ở đâu
Thư pháp chữ quốc ngữ dùng cùng dụng cụ với thư pháp chữ Hán: bút lông, mực tàu, giấy dó hoặc giấy xuyến chỉ. Nhưng chữ quốc ngữ là chữ ghép vần theo mẫu tự Latinh, viết từ trái sang phải theo hàng ngang, nên người viết phải tự tìm cách cho nét bút lông có thần thái mà vẫn đọc được. Mỗi người viết có lối riêng; không có một chuẩn chung như các thể chữ Hán đã định hình qua nhiều thế kỷ.
Điểm mạnh lớn nhất của chữ Việt là người nhận đọc được ngay. Cụ bà không biết chữ Hán vẫn đọc được chữ “Mẹ” trên tường; khách đến nhà nhìn là hiểu; cháu nhỏ có thể hỏi bà vì sao treo câu ấy. Một bức tranh được đọc mỗi ngày thì sống lâu trong nhà hơn một bức tranh chỉ được ngắm.
Điểm yếu là dễ rơi vào lối viết phô diễn: chữ vặn xoắn, nét kéo dài, dấu thanh biến thành hình trang trí. Nhìn qua thì bay bổng, đọc kỹ thì không ra chữ gì. Khi chọn làm quà, nên ưu tiên lối viết vừa có nét bút lông rõ ràng, vừa giữ được hình chữ cái, để món quà làm đúng việc của nó là nói một điều với người nhận.
Ba dạng nội dung: một chữ, một câu, một cái tên
Nội dung quyết định khổ tranh và cách treo. Bảng dưới so ba dạng hay gặp nhất khi đặt thư pháp chữ Việt làm quà.
| Dạng | Ví dụ | Ưu điểm | Lưu ý |
|---|---|---|---|
| Một chữ đơn | Mẹ, Cha, Nhà, An, Tâm, Nhẫn | Đậm, dễ đọc từ xa, hợp tranh vuông hoặc đứng | Nhiều tranh giống nhau, nên kèm dòng nhỏ riêng cho người nhận |
| Một câu | Câu ca dao, câu thơ, câu nói quen của người nhận | Kể được một ý trọn vẹn, nhiều cảm xúc | Phải chép đúng nguyên văn; câu dài cần tranh ngang |
| Tên người nhận | Tên riêng, tên hai vợ chồng, tên các con trong nhà | Rất riêng, khó trùng | Kiểm dấu và cách viết tên cẩn thận; hỏi trước nếu người nhận ngại lộ tên |
Với dịp trọng, dạng tên người kết hợp một chữ là cách hay: chữ chính ở giữa, tên người nhận và dịp tặng ở dòng nhỏ bên cạnh. Ví dụ giả định: chữ “An” lớn, bên dưới dòng nhỏ “Mừng bố mẹ về nhà mới, các con kính tặng”. Bức tranh vừa có ý chung, vừa là của riêng một gia đình.
Chọn câu: chép đúng nguyên văn là phần khó nhất
Câu ca dao, câu thơ là nội dung được đặt nhiều nhất và cũng hay sai nhất. Vài nguyên tắc khi chọn câu:
- Chọn câu bạn biết rõ nguồn: ca dao quen thuộc, câu thơ trong tác phẩm đã in, câu nói của chính người nhận. Tránh câu chỉ thấy lan truyền trên mạng với tên tác giả không rõ ràng.
- Ca dao có nhiều dị bản theo vùng; chọn bản người nhận quen nghe. Ví dụ câu ca dao về công cha nghĩa mẹ có vài cách nói khác nhau ở các câu sau, nên hỏi người trong nhà bản họ thuộc.
- Với câu thơ có tác giả, đối chiếu với sách in trước khi đặt viết, đặc biệt các câu thường bị chép sai một hai chữ khi truyền miệng.
- Câu nói của người nhận, như một câu ông hay dặn con cháu, thường là nội dung đắt giá nhất vì không ai có. Ghi chính xác lời họ, có thể ghi “lời ông dặn” ở dòng nhỏ.
- Câu quá dài sẽ buộc chữ nhỏ lại, mất sức nặng của nét bút. Hai dòng sáu – tám chữ, hoặc một câu dưới mười lăm chữ, là độ dài dễ trình bày đẹp.
- Tránh câu có ý so bì, mỉa mai hay mang tính đùa cợt nếu tranh dùng cho dịp trọng; câu vui hợp quà bạn bè hơn là quà mừng thọ.
Kiểu chữ: chân phương, cách điệu hay phá cách
Chân phương. Chữ viết rõ từng mẫu tự, nét bút lông có đậm nhạt nhưng hình chữ giữ nguyên. Hợp người cao tuổi, phòng khách đông người qua lại, và những câu dài cần đọc trọn.
Cách điệu vừa phải. Một vài nét được kéo dài, chữ đầu câu viết lớn, các chữ nối mềm với nhau. Đây là lối phổ biến ở các phố ông đồ ngày Tết, cân bằng giữa đẹp mắt và dễ đọc. Hợp phần lớn dịp làm quà.
Phá cách, tạo hình. Chữ được biến thành hình con vật, ngọn núi, dáng người. Bắt mắt và hợp quà vui, quà cho người trẻ thích nghệ thuật. Với dịp trọng, kiểu này dễ bị coi là thiếu trang nghiêm, và nhiều người nhận không đọc ra chữ.
Thử bằng mắt người lạ. Trước khi chốt, đưa ảnh bản nháp cho một người không biết nội dung đọc thử. Họ đọc được trong vài giây là kiểu chữ ổn; phải đoán thì nên yêu cầu người viết viết rõ hơn.
Chính tả và dấu thanh: lỗi nhỏ, hậu quả lớn
Thư pháp chữ Việt hay gặp một loại lỗi mà chữ Hán không có: sai dấu thanh. Dấu hỏi thành dấu ngã, dấu nặng bị bỏ vì người viết cho rằng chấm dưới làm rối bố cục, chữ “ư”, “ơ” mất móc. Có lỗi chỉ làm chữ khó đọc, có lỗi đổi hẳn nghĩa. Một câu chúc mà sai dấu trên tranh treo phòng khách là điều người nhận không tiện nói ra nhưng sẽ thấy mỗi ngày.
Lỗi thứ hai là ngắt dòng sai. Câu thơ bị cắt giữa một từ ghép, hoặc dòng dưới bắt đầu bằng một chữ khiến cả câu đọc ra nghĩa khác. Khi xem bản nháp, đọc to từng dòng theo đúng cách bố cục để kiểm.
Lỗi thứ ba là tên riêng. Tên người nhận có thể có cách viết riêng (Thuỷ hay Thủy, Quí hay Quý, tuỳ giấy tờ của họ), và người lớn tuổi đôi khi khó chịu khi tên mình bị viết khác. Hỏi người thân cách viết tên trên giấy tờ, và giữ đúng như vậy.
Quy tắc đơn giản: viết toàn bộ nội dung ra giấy bằng chữ in rõ ràng, có dấu đầy đủ, gửi người viết, và yêu cầu họ đối chiếu với bản đó. Khi nhận tranh, đọc lại từng chữ một lần nữa trước khi gói.
Nền giấy, chất liệu và cách trình bày
Thư pháp chữ Việt không chỉ viết trên giấy. Một số chất liệu hay dùng làm quà, mỗi loại hợp một kiểu nhà:
- Giấy dó: thớ giấy thấy rõ, mực ăn vào giấy tạo độ loang mềm; hợp nhà có đồ gỗ, phong cách truyền thống. Cần bồi và đóng khung kính để giữ phẳng.
- Giấy đỏ, giấy hồng điều: màu ngày Tết và ngày vui; hợp quà mừng thọ, mừng cưới; màu có thể phai nếu treo chỗ nắng.
- Lụa: nền mịn, sang, hợp quà trang trọng; mực trên lụa khó sửa nên người viết phải chắc tay.
- Gỗ khắc, tre ghép: chữ được viết rồi khắc hoặc chạm; bền, hợp treo ngoài hiên hoặc nơi ẩm; nặng hơn tranh giấy nhiều.
- Đĩa gốm, bình gốm viết chữ: chữ viết lên men rồi nung; hợp để bàn, kệ; kiểm kỹ chính tả vì không sửa được sau khi nung.
Với người nhận sống ở vùng nồm ẩm, tranh giấy cần khung kín và chỗ treo khô thoáng. Nếu bạn không chắc nhà họ có chỗ treo, đĩa gốm hoặc tranh khổ nhỏ để bàn là phương án dễ dùng hơn.
Dịp hợp với thư pháp chữ Việt
Quà con cháu cho ông bà, cha mẹ. Một chữ “Mẹ”, “Cha” hoặc câu ca dao về công ơn sinh thành, kèm tên các con, là món quà giản dị mà nhiều cụ treo ngay đầu giường.
Mừng nhà mới của gia đình trẻ. Chữ “Nhà”, “An”, “Ấm” hay tên hai vợ chồng hợp phong cách nhà hiện đại hơn tranh chữ Hán cổ.
Tạ ơn thầy cô. Một câu thầy cô hay dặn trong giờ học, viết lại thành thư pháp kèm tên lớp, thường làm thầy cô xúc động hơn mọi món đồ.
Quà cho người nước ngoài học tiếng Việt. Tên của họ viết bằng chữ Việt có dấu, kèm phiên âm và nghĩa, là món quà nhỏ dễ mang và rất riêng.
Mừng con cháu tốt nghiệp, đi xa. Ông bà, cha mẹ tặng con một câu dặn ngắn viết bằng chữ Việt, như lời dặn giữ nếp nhà hay một câu ca dao về quê hương. Bức tranh nhỏ dễ mang theo vào ký túc xá, phòng trọ, và trở thành vật nhắc nhà mỗi khi nhìn lên tường.
Xin chữ ông đồ ngày Tết để làm quà: xin sao cho có ý
Nhiều người không đặt viết mà mua hoặc xin chữ ở phố ông đồ dịp đầu năm rồi để dành làm quà trong năm. Cách này tiện, nhưng chữ xin vội giữa đám đông thường là chữ chung, giống hàng trăm bức khác. Muốn chữ xin được thành quà riêng, nên chuẩn bị từ nhà: biết mình xin cho ai, xin chữ gì, có cần dòng nhỏ ghi tên người nhận không.
Khi đứng trước người viết, nói rõ người nhận và dịp, đưa nội dung đã viết sẵn ra giấy có dấu đầy đủ. Nếu muốn thêm dòng nhỏ ghi tên, hỏi người viết có nhận không, vì ngày đông khách nhiều người chỉ viết chữ chính. Xem lại chữ ngay tại chỗ, kiểm dấu thanh khi mực còn ướt; phát hiện lỗi lúc về nhà thì đã muộn.
Chữ xin ngày Tết thường viết trên giấy đỏ hoặc giấy dó mỏng, chưa bồi. Mang về, để chữ khô hẳn, cuộn lỏng vào ống giấy cứng, cất nơi khô. Trước khi tặng mới đem bồi và đóng khung, để tranh còn mới khi đến tay người nhận.
Câu hỏi thường gặp
Thư pháp chữ quốc ngữ có được coi là thư pháp thật không?
Có nhiều quan điểm. Một số người chơi chữ Hán lâu năm cho rằng chỉ chữ Hán mới đủ chiều sâu thể chữ; nhiều người khác coi thư pháp chữ Việt là một lối nghệ thuật riêng đã có chỗ đứng. Với mục đích làm quà, điều quan trọng là nét bút có tay nghề và nội dung có ý nghĩa với người nhận.
Có nên viết tên người nhận thành thư pháp không?
Nên, nếu người nhận thích sự riêng tư được ghi dấu và không ngại tên mình treo trên tường. Kiểm cách viết tên theo giấy tờ của họ. Với người lớn tuổi, có thể ghép tên với một chữ chúc ngắn để bức tranh không chỉ là một cái tên.
Câu ca dao có nhiều dị bản thì chọn bản nào?
Chọn bản người nhận quen nghe nhất, thường là bản phổ biến ở vùng quê của họ. Nếu không biết, chọn bản được in trong sách giáo khoa hoặc tuyển tập ca dao phổ biến. Đừng ghép các câu của nhiều bản khác nhau thành một bài mới.
Làm sao biết người viết thư pháp chữ Việt có tay nghề?
Xem các bức họ đã viết: nét có đậm nhạt tự nhiên không, chữ có cân trong khung không, dấu thanh có đúng và rõ không. Nhờ họ viết thử một chữ ngắn trước khi đặt bức lớn. Người viết có nghề sẵn lòng cho xem bản nháp và sửa theo góp ý.
Tranh chữ Việt viết trên giấy đỏ có bền không?
Giấy đỏ hay phai màu khi gặp nắng và hơi ẩm, sau vài năm có thể ngả hồng nhạt. Nếu muốn treo lâu, chọn giấy dó hoặc lụa, bồi kỹ và đóng khung kính, treo tránh nắng trực tiếp. Giấy đỏ hợp tranh treo theo mùa như ngày Tết.
Thư pháp chữ Việt có hợp làm quà cho đối tác không?
Hợp với đối tác người Việt thân thiết hoặc đối tác nước ngoài muốn hiểu văn hoá Việt, nếu chọn chữ ngắn, nghĩa rõ và kèm bản dịch. Nên chọn khổ nhỏ dễ mang. Tránh câu dài khó dịch hoặc câu chơi chữ chỉ người Việt hiểu.