"Mã đáo thành công" là thành ngữ Hán, nghĩa đen là ngựa vừa đến nơi đã thành công; ý là việc vừa bắt tay đã thuận, khởi đầu đã gặp kết quả. Tranh mã đáo thành công vì vậy thường vẽ đàn ngựa đang phi nước đại, hướng về phía trước, và là món quà quen cho dịp khởi sự: khai trương, nhận chức mới, lên đường lập nghiệp, ký hợp đồng lớn.
Nhưng chính vì là tranh của sự khởi đầu và tốc độ, tranh ngựa phi không phải lúc nào cũng hợp. Tặng người sắp nghỉ hưu, người đang muốn chậm lại, hay treo trong phòng ngủ của người già thì ý tranh và ý người nhận đi ngược nhau. Bài này giải thích gốc thành ngữ, tích tám con tuấn mã hay đi kèm, cách đọc một bức tranh ngựa và cách chọn cho đúng dịp, đúng người, như một món quà có câu chuyện chứ không như vật cầu may.
Gốc của thành ngữ và vì sao ngựa gắn với thành công
Trong xã hội cổ, ngựa là phương tiện nhanh nhất để đưa tin, đi xa và ra trận. Thành ngữ "mã đáo thành công" gắn với hình ảnh đoàn quân, sứ giả cưỡi ngựa đến nơi là việc xong: thắng trận, tin vui tới, mệnh lệnh thành. Thành ngữ này phổ biến trong văn chương, hí khúc Trung Hoa từ nhiều thế kỷ trước rồi đi vào tiếng Việt như một lời chúc quen thuộc khi ai đó bắt đầu một việc.
Ngựa còn mang những lớp nghĩa khác mà người làm tranh khai thác: sức bền, sự trung thành, khí thế tiến lên. Người Việt có câu "thẳng như ruột ngựa" để khen người thật thà; nhiều đền thờ có ngựa đá, ngựa gỗ đứng chầu như phương tiện của thần. Vì những lớp nghĩa ấy, tranh ngựa hiếm khi chỉ là tranh động vật; nó là tranh chúc.
Điều nên nhớ là thành ngữ nói về khởi đầu thuận lợi, không phải lời hứa kết quả. Món quà nói "chúc anh chị khởi sự thuận buồm", còn thành hay không là việc của người làm. Hiểu như vậy giúp người tặng nói lời chúc vừa phải, không thành ra hứa hẹn thay người khác.
Ngựa trong ký ức văn hoá Việt
Trước khi có tranh mã đáo bán khắp nơi, người Việt đã có những con ngựa riêng trong ký ức. Truyền thuyết Thánh Gióng kể cậu bé làng Phù Đổng lớn vụt lên, cưỡi ngựa sắt, nhổ tre đánh giặc rồi bay về trời; hội Gióng ở Phù Đổng và Sóc Sơn nay thuộc Hà Nội đã được UNESCO ghi danh là di sản văn hoá phi vật thể. Ngựa ở đây là ngựa của chí lớn và lòng yêu nước, không phải ngựa của buôn bán.
Ở nhiều đình, đền, ngựa gỗ sơn đỏ, sơn trắng đứng trong khám bên cạnh ban thờ như phương tiện của thần; tranh dân gian Hàng Trống, Đông Hồ có những bức vẽ ngựa trong tranh thờ. Khi trao một bức tranh ngựa cho người lớn tuổi, nhắc lại những ký ức này thường khiến món quà gần gũi hơn hẳn so với chỉ nói câu thành ngữ.
Còn trong đời sống, ngựa từng là sức kéo, là phương tiện đường núi của nhiều vùng cao phía bắc; chợ phiên ở Lào Cai vẫn có lúc người ta dắt ngựa đi chợ. Với người nhận lớn lên ở những vùng ấy, bức tranh ngựa gợi quê nhà nhiều hơn là gợi thành công.
Tích tám con tuấn mã và những bức tranh ngựa nổi tiếng
Bát tuấn của Chu Mục vương. Sách cổ kể vua Chu Mục vương có tám con ngựa quý, đi xa ngàn dặm, chở vua đi tuần du phương tây. Hình ảnh tám con tuấn mã từ đó thành đề tài "bát tuấn đồ" trong hội hoạ, và là lý do nhiều tranh mã đáo vẽ đúng tám con ngựa.
Bách tuấn đồ. Đề tài trăm con ngựa trên một cuộn tranh dài có nhiều bản. Bản được nhắc nhiều là cuộn Bách tuấn đồ của Lang Thế Ninh, hoạ sĩ người Ý làm việc trong cung đình nhà Thanh, kết hợp lối vẽ phương Tây với đề tài phương Đông.
Ngựa thuỷ mặc thế kỷ hai mươi. Hoạ sĩ Từ Bi Hồng nổi tiếng với những con ngựa vẽ bằng mực nước, nét phóng khoáng, chân dài, bờm bay. Rất nhiều tranh ngựa thuỷ mặc bán ngoài thị trường ngày nay mô phỏng phong cách này; nếu thấy tranh ghi tên ông, gần như chắc chắn đó là bản chép hoặc bản in.
Số ngựa trong tranh. Phổ biến nhất là tám con theo tích bát tuấn, ngoài ra có tranh một con, hai, ba, sáu, chín con. Ở góc mỹ thuật, số ngựa quyết định nhịp của bức tranh: một con thì tập trung vào dáng, tám con thì cần bố cục lớp lang để không rối. Việc chọn số ngựa theo tuổi, theo mệnh thuộc một chủ đề khác, không bàn ở đây.
Đọc một bức tranh ngựa trước khi chọn
Cùng tên "mã đáo thành công" nhưng mỗi bức có khí chất riêng. Vài chi tiết dưới đây giúp bạn đọc tranh nhanh, chọn bức nói đúng lời mình muốn chúc.
| Chi tiết | Cách hiểu thường gặp | Gợi ý khi chọn |
|---|---|---|
| Ngựa phi nước đại, bờm tung, bụi bay | Khí thế mạnh, tiến nhanh | Hợp người đang bắt đầu việc lớn, văn phòng sôi động |
| Ngựa đi chậm, thong thả, gặm cỏ | Bình an, vững vàng, đủ đầy | Hợp người đã ổn định, không gian gia đình |
| Đàn ngựa cùng hướng | Đồng lòng, cùng tiến | Hợp quà của tập thể tặng tập thể |
| Ngựa chạy về phía người xem | Thường được đọc là đến, về, mang tin vui | Nhiều người thích treo ở sảnh đón khách |
| Ngựa có yên cương, người cưỡi | Chuyển sang đề tài nhân vật, tích truyện | Hỏi rõ tích trước khi tặng, có tích mang ý chia ly |
| Ngựa đá, ngựa gỗ, tượng đồng thay vì tranh | Cùng lời chúc, đổi chất liệu | Hợp bàn làm việc, kệ sách, nơi không còn chỗ treo |
Một bức tranh ngựa vẽ đẹp nhìn vào là thấy giải phẫu đúng: khớp chân gập đúng chiều, thân không quá dài, mắt có thần. Tranh vẽ vội thường lộ ở chân ngựa: chân cong kỳ lạ, bốn vó đều nhau như đúc. Bạn không cần là hoạ sĩ để thấy điều này, chỉ cần nhìn chậm vài giây.
Dịp hợp để tặng tranh mã đáo
Tranh mã đáo nói về khởi sự và tiến lên, nên hợp nhất với những dịp "bắt đầu". Một vài tình huống quen thuộc:
- Khai trương, khánh thành văn phòng, nhà xưởng: quà của khách mừng, treo ở sảnh hoặc phòng họp; khổ tranh nên hợp với tường chứ không phải càng to càng tốt.
- Nhận chức vụ mới, chuyển công tác: quà của đồng nghiệp cũ; bố cục đàn ngựa cùng hướng hợp hơn một con ngựa đơn độc, vì gợi tinh thần dẫn dắt tập thể.
- Con cháu đi xa lập nghiệp, du học: quà của cha mẹ, ông bà; tranh khổ nhỏ hoặc tượng ngựa nhỏ mang theo được.
- Ký kết hợp đồng, mở chi nhánh: quà đối tác; kèm tấm thẻ giải thích thành ngữ bằng hai thứ tiếng nếu đối tác là người nước ngoài.
- Người làm nghề liên quan đến ngựa, đến đường xa: lái xe đường dài, nghề vận tải, người mê cưỡi ngựa; tranh ngựa lúc ấy vừa là lời chúc vừa là sở thích.
Nếu cần lời chúc ghi kèm, một dòng ngắn đủ ý: tên người tặng, dịp, ngày tháng. Lời chúc dài, câu đối, nên để cho thiệp, không viết lên tranh.
Khi nào tranh ngựa phi dễ lỡ ý
Người sắp nghỉ hưu, chuẩn bị lui về nghỉ ngơi là trường hợp hay gặp nhất. Tặng đàn ngựa đang phi nước đại lúc ấy giống như nói "tiếp tục chạy đi", trong khi người nhận đang muốn chậm lại. Không phải kiêng kỵ gì, chỉ là lời chúc không đúng lúc. Với dịp này, một bức tùng hạc, cảnh ngư ông câu cá bên sông hay một bộ ấm trà tốt nói đúng tâm trạng hơn.
Người đang ốm, đang phục hồi sau bệnh cũng vậy: họ cần sự yên, không cần khí thế. Phòng ngủ của người cao tuổi, phòng của em bé không phải chỗ treo đàn ngựa tung vó. Đám cưới thì tranh ngựa không sai, nhưng không nói gì về chuyện vợ chồng; có nhiều đề tài khác hợp hơn như đôi chim, mẫu đơn.
Với người làm công chức, nhận chức mới trong cơ quan nhà nước, hãy giữ món quà ở mức nhỏ và mang tính tinh thần, tặng trong không khí đồng nghiệp chung vui, không gắn với bất kỳ công việc nào người đó đang giải quyết cho mình. Một bức tranh khổ lớn đắt tiền trong hoàn cảnh ấy dễ gây khó xử cho cả hai bên.
Cuối cùng là tranh ngựa có người cưỡi. Nhiều bức vẽ tích Chiêu Quân cưỡi ngựa sang đất Hồ, tướng quân lên ngựa ra biên ải: đẹp, nhưng là cảnh chia tay quê nhà. Đem tặng người sắp đi xa thì còn hợp, đem tặng mừng đám cưới hay mừng nhà mới thì lệch ý. Gặp tranh có nhân vật, bạn hỏi người bán tích gì rồi hãy quyết.
Trao tranh mã đáo trong buổi khai trương hay buổi chia tay
Tranh khổ lớn thường được trao trong khoảnh khắc đông người. Vài bước giúp phần trao diễn ra gọn, đẹp ảnh và không làm phiền chủ nhà.
- Hỏi trước người tổ chức: có phần trao quà trên sân khấu không, nếu không thì nên gửi tranh tới trước hay mang tới lúc nào.
- Bọc tranh bằng vải hoặc màng bảo vệ, dán một tấm thẻ nhỏ ghi tên đơn vị tặng ở mặt sau để chủ nhà biết của ai khi mở.
- Cử hai người nâng tranh nếu khổ lớn; người đại diện đứng giữa, quay mặt tranh về phía người nhận và khách.
- Nói một câu ngắn: chúc mừng dịp gì, bức tranh có ý mã đáo thành công nghĩa là gì, gửi lời chúc khởi đầu thuận lợi.
- Chụp ảnh khi tranh đã mở lớp bọc, rồi giao cho người phụ trách mang vào, không để chủ nhà phải tự cầm suốt buổi.
Nếu bạn là người nhận, cảm ơn ngắn gọn, nhắc tên người hoặc đơn vị tặng và cho biết tranh sẽ treo ở đâu. Đó là cách đáp lễ lịch sự nhất.
Câu hỏi thường gặp
Tranh mã đáo thành công bao nhiêu con ngựa là đẹp nhất?
Về mỹ thuật không có con số đẹp nhất. Tám con phổ biến vì gắn với tích bát tuấn của Chu Mục vương; một con thì đẹp ở dáng, nhiều con thì đẹp ở nhịp. Bạn nên chọn theo khổ tường và cảm giác khi đứng xem, đừng chọn chỉ vì con số.
Tranh ngựa thuỷ mặc ghi tên Từ Bi Hồng có phải tranh thật không?
Gần như chắc chắn là bản chép hoặc bản in. Tranh thật của các danh hoạ nằm trong bảo tàng và bộ sưu tập lớn, khi mua bán phải qua giám định, đấu giá. Mua bản chép đẹp để tặng không có gì sai, miễn là người bán và người tặng đều nói rõ đó là bản chép.
Tặng tranh ngựa cho người tuổi Ngọ có ý nghĩa hơn không?
Nhiều người thích vì thấy con vật cầm tinh của mình trong tranh, đó là niềm vui nhỏ đáng trân trọng. Bài này không chọn tranh theo tuổi hay mệnh; nếu người nhận thích ngựa, mê cưỡi ngựa hay sinh năm Ngọ, đó đơn giản là thêm một lý do để họ quý bức tranh.
Có nên tặng tượng ngựa thay cho tranh?
Tượng ngựa bằng đồng, gỗ, gốm là lựa chọn tốt khi người nhận làm việc ở văn phòng nhỏ, không còn tường trống. Tượng cần chỗ đặt vững, tránh mép bàn; tượng đồng nặng nên hỏi kích thước bàn trước. Lời chúc vẫn giống tranh: khởi đầu thuận lợi.
Đặt hoạ sĩ vẽ riêng một bức mã đáo cần chuẩn bị gì?
Bạn nên có kích thước tường, ảnh căn phòng, dịp tặng và người nhận, số ngựa hay không khí muốn có, hạn giao. Hãy xin bản phác nhỏ trước khi vẽ chính thức, thoả thuận rõ chất liệu, khung, việc ký tên và thời gian sửa nếu chưa ưng.